[Từ vựng tiếng Nhật] – Từ ngữ và khí tiết “Mùa Xuân”

Nhật Bản là xứ ôn đới với khí hậu phân chia 4 mùa rõ rệt,cùng với những thay đổi của khí tiết có những từ ngữ đẹp chỉ những việc liên quan đến sự thay đổi này. Ngày nay chắc ít ai để ý tìm tòi hay hiểu biết hết về khí tiết như ngày xưa,vì dù sao nông nghiệp cũng đã mất đi vai trò quan trọng của nó như ngày xưa. Tuy nhiên chủ đề này được lập ra chỉ để nhắc nhở rằng trong tiếng Nhật (cũng như tiếng Việt) cũng có những từ ngữ như thế.

 Những từ ngữ liên quan đến mùa xuân.

* 穀雨 (koku U) một trong 24 khí tiết,tiếng Việt gọi là tiết Cốc Vũ. Khoảng 
ngày 21 tháng 4 là tiết cốc vũ, cây cỏ nảy nở xanh tốt trong mưa xuân nên 
có tên gọi như thế. Cốc (Koku) ở đây nghĩa là cốc vật, ngũ cốc,những thứ 
cây lương thực họ đậu và lúa, Vũ (U) ở đây nghĩa là mưa.
* 東風 (Kochi): Nguời Việt gọi là Đông Phong. Khi gió từ hướng Đông và Đông 
Bắc thổi đến là dấu hiệu của mùa xuân đến. Nguời ta nói gió này là hoa đào 
(ume) nở, nên có câu thơ Tàu là "hoa đào cười với gió đông".
* 三寒四温 (Sankan Shion): Khi khí tiết 3 ngày lạnh, 4 ngày ấm lặp đi lặp 
lại là lúc mùa xuân bắt đầu.
* 残雪 (Zansetsu): Từ chỉ tuyết không tan ngay cả khi xuân đến. Còn gọi là 
Kozo no Yuki.
* 春暁 (ShunGyou): Buổi sớm mùa xuân. Chữ 暁 đọc là Akatsuki, ngày xưa dùng 
đọc là Akatoki. Tương đương với 曙 (akebono) nhưng chỉ thời gian sớm hơn,
từ nửa đêm tới lúc rạng sáng.
* 春分 (Shunbun): tiết xuân phân ,một trong 24 khí tiết, khoảng ngày 21 
tháng 3 khi ngày và đêm dài bằng nhau.
* 春眠 (Shunmin): ngủ xuân. Từ này chỉ một giấc ngủ dài. Vào đêm xuân thì 
tâm trạng con nguời ta có phần dễ chịu, nên hay thức khuya và khi ngủ thì 
đánh một giấc dài đến sáng mà không hay biết. Shunmin Akebono wo Oboezu là 
ý nghĩa này.
* 泡雪 (Awa Yuki): một hình thức của tuyết, hình bong bóng, rất mềm và dễ vỡ.
* 雨水 (Usui): một trong 24 khí tiết, ngày thứ 15 kể từ ngày lập xuân 
(khoảng ngày 19 tháng 2), cho đến lúc này thì trời vẫn hay đổ tuyết và nước
 đóng băng, rồi tuyết ngưng mưa xuống, thực vật nảy nở báo hiệu mùa xuân đến.
* 薄氷 (usurai): khi hết xuân là lúc nước trong hồ chỉ còn một lớp băng mỏng,
 báo hiệu mùa xuân sắp đến.
* 麗 (Urara ): hay còn gọi là UraUra. Lúc này trời trong xanh, không nóng 
cũng không lạnh. Bạn nào nghe bài Warabe Uta "Haru" sẽ thấy mở đầu với câu 
Haru no Urara no Sumidagawa . (Khí trời ấm áp trên sông Sumida Gawa, một 
con sông nổi tiếng xinh đẹp hay trở thành đề tài cho các tác phẩm văn học, 
lúc này người ta hay chèo thuyền ngắm cảnh hoa anh đào nở 2 bên ven sông).
* 朧月 (Oboro Zuki): Vào đêm xuân ngẩn nhìn bầu trời thì thấy xung quanh 
mặt trăng có vầng khí như hơi nước bao quanh khiến nó trông lờ mờ huyền ảo.
 Về bản chất hiện tượng thì Oboro Zuki giống như Kasumi nhưng Kasumi thuộc 
ban ngày,Oboro Zuki thuộc ban đêm. Các bạn cũng gặp bài này trong bài hát "Haru".
* 陽炎 (Kagerou): đây là hiện tượng hay thấy ở mùa xuân và mùa hạ, khi hơi 
nước từ mặt đất bốc lên gặp không khí nóng khiến ánh sáng bị khúc chiết 
không theo quy tắc, trông lung linh như ngọn lửa trong suốt.
* 霞 (Kasumi): Đây là hiện tượng xảy ra vào mùa xuân từ sáng sớm đến trưa, 
khi hơi nước bốc lên không trung và nếu nhìn những cảnh vật từ xa như núi 
sẽ thấy một màng như mây bao quanh. Cùng hiện tượng nhưng nếu xảy ra vào 
mùa thu thì gọi là Kiri.
* 風光る (Kaze Hikaru): vào mùa xuân, mặt trời bắt đầu chiếu mạnh và những 
ngọn gió thổi tới cũng trông lấp lánh trong nắng.
* 堅雪 (Kata Yuki): mùa xuân, ban ngày tuyết tan do dương khí nhưng đêm 
lạnh khiến bề mặt nó kết tinh và cứng lại.
* 啓蟄 (Keichitsu): một trong 24 khí tiết,vào ngày 6 tháng 3, khi sâu bọ côn 
trùng trốn rét trong mùa đông bắt đầu chui ra khỏi nơi ẩn nấp.
* 春雷 (Shunrai), những đợt sấm đầu tiên của một năm bắt đầu vang lên vào 
tiết Keichitsu báo hiệu mùa xuân đến.
* 春霖 (ShunRin) : khoảng từ đầu đến cuối xuân khi khí trời không phân chia 
rõ rệt.
* 蜃気楼 (Shin Ki Rou) hiện tượng ảo giác khiến người nhìn thấy những vật 
không có thực, hay những vật có thực ở nơi này lại nhìn thấy ở nơi khác do 
khúc chiết của ảnh sáng gây ra. Hiện tượng này thường xảy ra trong không 
trung và hình ảnh khi thì dài ra, khi thì lunh linh và biến đổi thiên hình 
vạn trạng. Nguời xưa nói hiện tượng này do con hâu khổng lồ trong truyền 
thuyết Trung Hoa hắt hơi gây ra. Từ này đã trở thành một Kigo trong thơi 
Haiku. Ở Nhật Bản Toyama ken nổi tiếng vì hay xảy ra hiện tượng này và 
thấy sớm nhất trong mùa xuân.
* 清明 (Seimei): một trong 24 khí tiết, ngày thứ 15 kể từ xuân phân (khoảng 
ngày 5 tháng 4). Lúc này vạn vật nảy nở tươi tốt và nguời Hoa, nguời Việt 
có thói quen tảo mộ. Thời gian ở đây tính theo dương lịch, còn câu " Thanh 
minh trong tiết tháng ba'' là tính theo âm lịch nên có sự sai khác về thời gian.
* 名残り雪 (Nagori Yuki) Tuy là xuân sắp đến nhưng đó đây vẫn có vài đợt 
tuyết còn sót lại của mùa đông.
* 雪崩 (nadare) tuyết lở, mùa đông tuyết tích tụ trên các sườn núi và xuân 
đến do độ dốc và nhiệt độ nên chúng đổ xuống. Ở các vùng ven biển Nhật Bản 
hay xảy ra hiện tượng này.
* 八十八夜 (hachi Juu hachi ya): Kể từ ngày lập xuân, 88 ngày sau, (ứng với 
ngày 1, 2 của tháng 5) là lúc nhà nông bắt đầu gieo hạt.
* 苗代 (Nawashiro, Naeshiro) ruộng nước để gieo hạt giống mùa xuân, từ thời 
của tập thơ Man Youshu nó đã trở thành Kigo chỉ mùa xuân.
* 花曇 (hana gumori) Vào khí tiết hoa anh đào nở, bầu trời và cảnh sắc 
trông mơ hồ và giống như nhìn từ một lớp mây, có khi có sương mù và mưa.
* 花冷え (Hana hie) lúc hoa anh đào nở là lúc dương khí dễ biến động, trời 
hơi chớm lạnh.
* 春一番 (Haru ichiban) Khoảng thời gian cuối tháng 2 đến tháng 3, khi 
những đợt gió nam đầu tiên trong năm thổi mạnh báo hiệu mùa xuân.
* 春うらら (haru Urara ) Ngày mùa xuân ấm áp, không nóng cũng không lạnh, 
lòng nguời dễ chịu.
* 春炬燵 (Haru gotatsu) : Kotatsu là kiểu bàn Nhật có đặt lò lửa nhỏ để 
sưởi ấm phần thân dưới và tay. Haru Gotatsu là kotatsu lúc này chỉ dùng 
với mục đích là bàn, không còn để sưởi ấm vì xuân đã đến, người ta giảm bớt lửa.
* 春告げ鳥 (haru tusge tori) : tên khác của Ugusui, loại chim đặc trưng của 
mùa xuân (không phải én), nó báo hiệu xuân đến.
* 彼岸 (Higan) thời kỳ phụng sự Phật Sự, tổ chức lễ tế, viếng mộ của nông dân.
* 麦踏 (Mugi Fumi) đúng như tên gọi, có nghĩa là dẫm lên lúa mạch. Đầu xuân 
nguời ta dẫm lên rễ lúa mạch để phòng mầm nảy nở quá nhanh vì sương.
* 山笑う (Yama Warau) đầu xuân, cây cỏ trên núi nảy nở xanh tốt khiến ngọn 
núi trông rực rỡ như đang cười.
* 夜桜 (Zozakura) ngắm hoa anh đào nở ban đêm.
* 立春 (Risshun) một trong 24 khí tiết, khoảng ngày 4 tháng 2 và là điểm 
mốc bắt đầu của mùa xuân.

Học tiếng Nhật Bản

Bài học liên quan

Bài học xem nhiều

Tiếng Nhật chuyên ngành

Tiếng Nhật giao tiếp

Ngữ pháp tiếng Nhật

Cẩm nang tiếng Nhật

Sách tiếng Nhật